Giới thiệu Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 11041-5:2018 Áp dụng sản xuất lúa, gạo hữu cơ tại HTX Kim Bồng

Tin tức   09:54, hôm nay, 1 lượt xem
Tiêu chuẩn Quốc Gia TCVN 11041-5:2018 Nông nghiệp hữu cơ - Phần 5: Gạo hữu cơ, quy định các yêu cầu đối với việc trồng lúa, thu hoạch và bảo quản thóc hữu cơ; sơ chế, chế biến và bảo quản gạo hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện nhằm đẩy mạnh và tăng cường sức khỏe của hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm cả đa dạng sinh học, các chu trình sinh học và năng suất sinh học. Nông nghiệp hữu cơ nhấn mạnh việc quản lý các hoạt động canh tác, giảm thiểu dùng vật tư, nguyên liệu đầu vào từ bên ngoài cơ sở và có tính đến các điều kiện từng vùng, từng địa phương.

Nông nghiệp hữu cơ phải đáp ứng các mục tiêu sau đây:

  • Áp dụng sản xuất xuất hữu cơ lâu dàu, bền vững, theo hướng sinh thái và có hệ thống.
  • Đảm bảo độ phì nhiêu của đất lâu dài và dựa trên đặc tính sinh học của đất
  • Giảm thiểu (và tránh dùng nếu có thể) vật tư, nguyên liệu đầu vào là chất tổng hợp trong mọi giai đoạn của chuỗi sản xuất hữu cơ cũng như sự phơi nhiễm của con người và môi trường đối với các hóa chất bền hoặc có nguy cơ gây hại.
  • Giảm thiểu việc gây ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất đến môi trường xung quanh.
  • Không sử dụng các công nghệ không có nguồn gốc tự nhiên (ví dụ: các sản phẩm từ kỹ thuật biến đổi gien, công nghệ chiếu xạ...)
  • Tránh bị ô nhiễm từ môi trường xung quanh.
  • Duy trì tính chất hữu cơ trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản và vận chuyển

Nguyên tắc của trồng lúa hữu cơ, thu hoạch và bảo quản thóc hữu cơ, xay xát, chế biến và bảo quản gạo hữu cơ tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

              Gồm 04 nguyên tắc chung:

Nguyên tắc sức khỏe: Nông nghiệp hữu cơ cần duy trì và nâng cao sức khỏe của đất, thực vật, động vật, con người và trái đất như một thực thể thống nhất trọn vẹn và không tách rời.

Nguyên tắc sinh thái: Nông nghiệp hữu cơ dựa trên các hệ sinh thái sống và các chu trình tự nhiên, vận hành phù hợp với chúng, tuân thủ các quy tắc của chúng và giúp bảo vệ tính toàn vẹn và hài hòa của chúng.

Nguyên tắc công bằng: Nông nghiệp hữu cơ cần xây dựng trên các mối quan hệ đảm bảo tính công bằng đối với môi trường chung và đảm bảo cơ hội sống cho mọi sinh vật.

Nguyên tắc cẩn trọng: Nông nghiệp hữu cơ cần được quản lý một cách thận trọng và có trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe và phúc lợi của các thế hệ hiện tại, tương lai và của môi trường.

            Nguyên tắc cụ thể trồng trọt lúa, gạo:

Duy trì và tăng cường độ nhì của đất tự nhiên, sự ổn định và độ tơi xốp của đất, chống xói mòn đất và giúp cây trồng hấp thu dinh dưỡng chủ yếu thông qua hệ sinh thái đất.

Giảm thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo và các vật tư, nguyên liệu đầu vào không có nguồn gốc nông nghiệp.

Tái chế chất thải và phụ phẩm có nguồn gốc thực vật và động vật làm nguyên liệu đầu vào cho trồng trọt.

Có tính đến cân bằng sinh thái tại khu vực sản xuất.

Duy trì sức khỏe của cây trồng bằng các biện pháp phòng ngừa, ví dụ: lựa chọn loài và giống cây trồng kháng sâu bệnh phù hợp, sử dụng biện pháp luân canh thích hợp, sử dụng phương pháp cơ học và vật lý thích hợp, bảo vệ thiên địch của sinh vật gây hại.

Các yêu cầu đối với việc trồng lúa hữu cơ

 Lúa hữu cơSản phẩm lúa (thóc) thu hoạch từ vùng trồng / hệ thống sản xuất lúa theo phương pháp hữu cơ

Gạo lật hữu cơ/ gạo lứt hữu cơ: Sản phẩm thu được sau khi xay thóc/ lúa hữu cơ để loại bỏ trấu.

Gạo trắng hữu cơ: Sản phẩm thu được sau quá trình xay gạo lật hữu cơ/ gạo lứt hữu cơ để loại bỏ toàn bộ cám và phôi.

Khu vực trồng trọt:

Khu vực sản xuất hữu cơ phải được khoanh vùng, phải có vùng đệm hoặc hàng rào vật lý tách biệt với khu vực không sản xuất hữu cơ, cách xa khu vực môi trường bị ô nhiễm, hoặc khu tập kết, xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện.

Cơ sở phải quy định vùng đệm cụ thể và dễ dàng nhận diện. Chiều cao của cây trồng trong vùng đệm và chiều rộng cụ thể của vùng đệm phụ thuộ vào nguồn gây ô nhiễm cần được xử lý, địa hình của cơ sở và điều kiện khí hậu địa phương.

Chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ:

Sản xuất hữu cơ phải thực hiện giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất không hữu cơ. Các hoạt động trong giai đoạn chuyển đổi phải tuân thủ các yêu cầu của tiêu chuẩn hữu cơ cụ thể.

Giai đoạn chuyển đổi áp dụng trên một phần hoặc toàn bộ diện tích sản xuất phải ít nhất là:

-         Đối với lúa: 12 tháng cho đến khi gieo hạt hoặc trồng lúa.

Thời điểm bắt đầu chuyển đổi là ngày ghi nhận việc quản lý sản xuất hữu cơ trong hồ sơ hoặc ngày mà tổ chức chứng nhận chấp nhận đơn đăng kí.

Giai đoạn chuyển đổi có thể kéo dài trên cơ sở nhận diện và đánh giá các nguy cơ có liên quan. Thời gian chuyển đổi có thể trong vòng 36 tháng sau khi sử dụng chất cấm đối với đất hoặc đối với cây trồng thì không đươc ghi nhãn liên quan đến hữu cơ.

Giai đoạn chuyển đổi có thể được rút ngắn nếu có bằng chứng về việc không sử dụng các chất cấm làm vật tư, nguyên liệu đầu vào hoặc không thực hiện các hoạt động bị cấm. Thời gian chuyển đổi sau khi rút ngắn không được ít hơn 6 tháng; riêng đối với đất nguyên sơ (không phải là rừng nguyên sinh) và đất hoang hóa, có thể bỏ qua giai đoạn chuyển đổi.

Nếu không chuyển đổi đồng thời toàn bộ cơ sở thì phải chia diện tích sản xuất thành từng khu vực nhỏ trong đó có sự tách biệt giữa khu vực trồng trọt hữu cơ với khu vực không sản xuất hữu cơ. Cơ sở có thể mở rộng dần phạm vi trồng trọt hữu cơ bằng cách áp dụng tiêu chuẩn này ngay từ khi bắt đầu việc chuyển đổi trên các diên tích thích hợp.

Duy trì sản xuất hữu cơ:

Cơ sở phải duy trì sản xuất hữu cơ liên tục. Không được chuyển đổi qua lại giữa khu vực sản xuất hữu cơ và khu vực sản xuất không hữu cơ, trừ khi có lý do thích hợp để chấm dứt sản xuất hữu cơ trên khu vực đã được chứng nhận hữu cơ và trong những trường hợp yêu cầu chuyển đổi được áp dụng.

Sản xuất song song và sản xuất riêng rẽ:

Nếu thực hiện sản xuất hữu cơ và sản xuất không hữu cơ tại cùng một cơ sở thì các hoạt động sản xuất không hữu cơ không được gây ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của khu vực sản xuất hữu cơ. Phải tách biệt khu vực sản xuất hữu cơ, sản phẩm hữu cơ với khu vực sản xuất không hữu cơ, sản phẩm không hữu cơ, ví dụ: dùng các rào cản vật lý, sản xuất các giống khác nhau hoặc bố trí thời vụ sao cho thời điểm thu hoạch là khác nhau, cách thức bảo quản sản phẩm và vật tư, nguyên liệu đầu vào.

Quản lý hệ sinh thái và đa dạng sinh học:

Trong sản xuất hữu cơ, không thực hiện các hoạt động có tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, ví dụ: khu bảo tôn động vật hoang dã, rừng đầu nguồn. Phải duy trì và/ hoặc tăng cường đa dạng sinh học đối với các khu vực sản xuất, trong mùa vụ và ở những nơi có thể trồng những câu khác với cây trồng hữu cơ.

Sản xuất hữu cơ duy trì và tăng cường đa dạng sinh học tại khu vực sản xuất bằng cách:

Áp dụng đa dạng cây trồng bằng phương thức luân canh, xen canh đối với cây hàng năm; trồng xen nhiều loài cây trồng đối với cây lâu năm; trồng cây che phủ đất (cây phân xanh) đối với cây hàng năm và cây lâu năm; quản lý mùa vụ tổng hợp;

Trồng cây vùng đệm, trồng cây ký chủ của sinh vật có ích, cây xua đuổi côn trùng, cây dẫn dụ thiên địch, trồng cây sử dụng làm thuốc diệt sinh vật gây hại, cây trồng khác ngoài cây trồng sản xuất hữu cơ trong khu vực sản xuất;

Giữ lại trong khu vực sản xuất một số diện tích tự nhiên hoặc nhân tạo làm môi trường sống cho các loài động vật, thực vật. Diện tích này bao gồm: kênh rạch, ao hồ tự nhiên, khu vực có cây mọc tự nhiên, rừng, vườn quả hỗn hợp, cây trồng vùng đệm, cây ký chủ, cây xua đuổi côn trùng, cây trồng khách ngoài cây trồng sản xuất hữu cơ.

Nếu sử dụng phương thức luân canh hoặc xen canh thì cây trồng luân canh hoặc xen canh với cây lúa phải được canh tác hữu cơ. Nên luân canh cây lúa với cây họ đậu.

Có thể kết hợp trồng lúa với nuôi trồng thủy sản hoặc thủy cẩm, phải nuôi theo phương pháp hữu cơ và không gây hại cho lúa.

Chọn giống lúa:

Lựa chọn loài và giống cây trồng đưa vào sản xuất hữu cơ có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của địa phương, chống chịu sinh vật gây hai và đảm bảo duy trì chất lượng giống cây trồng trong quá trình sản xuất.

Không sử dụng hạt giống lúa biến đổi gen

Ưu tiên sử dụng giống cây trồng được sản xuất hữu cơ (giống hữu cơ)

Nếu không có sẵn giống hữu cơ thì sử dụng giống được thu từ giống cây lúa thông thường sau khi canh tác theo phương thức sản xuất hữu cơ ít nhất một vụ sản xuất (một thế hệ/ vòng đời).

Khuyến khích sử dụng giống lúa bản địa tại Hội An - Đà Nẵng. Nếu không có giống bản địa thì sử dụng giống thuộc danh mục giống cây trồng được phép sản xuất, kinh doanh, có nguồn gốc rõ ràng.

Sử dụng giống cây trồng không qua xử lý hoặc chỉ xử lý bằng phương pháp vật lý, cơ học, sinh học. Nếu phải sử dụng giống được xử lý bằng hóa chất thì các chất đó phải được trong danh mục cho phép của tiêu chuẩn TCVN 11041-2:2017 và đồng thời được HTX Kim Bồng phê duyệt phù hợp giống đầu vào sản xuất lúa hữu cơ. Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng giống được xử lý bằng hóa chất không nêu trong TCVN 11041-2:2017 thì phải loại bỏ các chất đó khỏi giống cây trồng trước khi sử dụng. (Cần phải ghi chép cẩn thận vào hồ sơ giống tại Sổ nhật ký canh tác lúa hữu cơ).

Quản lý đất trồng lúa hữu cơ:

Đất trong canh tác lúa hữu cơ cần phải đáp ứng các quy định hiện hành về giới hạn kim loại nặng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

pH của đất cần được kiểm soát thường xuyên.

Độ phì và đặc tính sinh học của đất cần được duy trì tăng cường khi thích hợp bằng cách trồng luân canh cây lúa với cây họ đậu, cây phân xanh. Cây trồng luân canh phải được canh tác hữu cơ. Bón vào đất các vật liệu hữu cơ có thể là phân ủ hoặc phân không ủ bao gồm các chế phẩm sinh học phù hợp với sản xuất hữu cơ.

Không đốt các thảm thực vật tàn dư trên đất trồng lúa hữu cơ. Nên thu gom và tiêu hủy ngoài khu vực sản xuất hữu cơ.

Áp dụng các biện pháp canh tác nhằm chống thoái hóa và ô nhiễm đất.

Nếu gieo mạ trên khay, giá thể phải được làm bằng vật liệu từ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hoặc các vật liệu tự nhiên không qua xử lý hóa chất.

Quản lý nước trong trồng lúa hữu cơ:

Nguồn nước sử dụng trong trồng trọt cần được sử dụng hợp lý theo nhu cầu của cây lúa và tránh lãng phí. Nước sử dụng trong trồng lúa hữu cơ phải đáp ứng yêu cầu theo quy đinh hiện hành. Phải bảo vệ nguồn nước để tránh bị ô nhiễm.

Quản lý phân bón:

Sản xuất hữu cơ chỉ sử dụng các loại phân khoáng thiên nhiên và chỉ để bổ sung cho các phương pháp sinh học để tăng độ phì cho đất, ví dụ: phân xanh và phân ủ (compost).

Sản xuất hữu cơ không sử dụng: Phân bón tổng hợp; Phân bón hòa tan bằng phương pháp hóa học, ví dụ: các superphosphate

Sản xuất hữu cơ không sử dụng phân bắc đối với cây trồng dùng làm thực phẩm.

Các sản phẩm phụ từ chăn nuôi, ví dụ phân chuồng từ bãi chứa trong trang trại có thể dùng để bón cho cây trồng. Khuyến khích sử dụng phân chuồng từ cơ sở chăn nuôi hữu cơ. Cần phải ủ hoai mục trước khi sử dụng. Để làm hoai mục phân ủ có kiểm soát, có thể dùng các vi sinh vật thích hợp hoặc các chế phẩm có nguồn gốc thực vật.

Có thể sử dụng phân bón được sản xuất bằng phương pháp gia nhiệt như nung chảy (ví dụ: phân lân nung chảy).

Đối với phân bón hữu cơ khoáng, thành phần khoáng (thành phần dinh dưỡng đa lượng) phải có nguồn gốc thiên nhiên.

Đối với phân xanh nên sử dụng cây họ đậu hoặc cây phân xanh.

Lượng Nito trong phân bón cho cây lúa không được lớn hơn 8kg/1000m2/vụ (tương đương 80kg/ha/vụ).

Phân sinh học: Sử dụng phân bón sinh học (bao gồm phân bón sinh học và phân bón vi sinh) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Quản lý sinh vật gây hại, cỏ dại trên cánh đồng lúa hữu cơ.

Cơ sở phải có biện pháp ngăn ngừa sinh vật gây hại (vi sinh vật gây bênh, côn trùng gây hại, cỏ dại…). Có thể sử dụng các biện pháp sau:

Thực hiện luân canh cây trồng, quản lý dinh dưỡng đối với đất và cây trồng

Các biện pháp vệ sinh để loại bỏ các mầm bệnh, hạt cỏ dại và môi trường sống cho sinh vật gây hại.

Sử dụng loài, giống cây trồng có khả năng kháng các loài sinh vật gây hại phổ biến và thích nghi với môi trường;

Để kiểm soát sinh vật gây hại, có thể sử dụng các biện pháp sau đây: Bảo vệ các loài thiên địch của sinh vật gây hại qua việc tạo môi trường sống thuận lợi, ví dụ: làm hàng rào, địa điểm làm tổ, các vùng sinh thái đệm để duy trì thảm thực vật ban đầu cho các loài côn trùng ăn sinh vật gây hại; Phóng thích các loài thiên địch, bao gồm cả các loài côn trùng ăn thịt và các loài ký sinh; Trồng cây xua đuổi sinh vật gây hại, cây dẫn dụ thiên địch; Dùng bẫy, rào chắn, ánh sáng, nhiệt độ và tiếng động.

Đối với cỏ dại, có thể sử dụng các biện pháp kiểm soát sau đây: Cắt tỉa; Cho vật nuôi gặm cỏ; Nhổ cỏ bằng tay; Canh tác bằng cơ giới (cày xới đất); Đốt cỏ dại với điều kiện không ảnh hưởng đến hệ sinh thái của đất; Che phủ bằng các vật liệu tự nhiên hoặc các vật liệu khác có thể phân hủy sinh học hoàn toàn; Che phủ bằng đất dẻo hoặc các vật liệu tổng hợp khác. Các vật liệu này phải được thu gom ra khỏi khu vực trồng trọt vào cuổi mùa vụ.

Đối với dịch bệnh, có thể sử dụng các biện pháp kiểm soát sau đây: Thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của các sinh vật gây bệnh; Sử dụng các chất có nguồn gốc thực vật, chất khoáng hoặc chế phẩm sinh học không chứa các chất tổng hợp.

Trong trường hợp có khả năng gây hại nghiêm trọng đến cây trồng và ở nơi mà các biện pháp nêu trên không đủ hiệu quả thì có thể sử dụng các chất nêu trong TCVN 11041.

Tất cả các công việc liên quan đến sản xuất lúa hữu cơ cần phải ghi chép một cách trung thực và đầy đủ vào Nhật ký canh tác lúa hữu cơ.

Tài liệu tham khảo: Tiêu chuẩn hữu cơ Quốc gia TCVN 11041-1:2017; TCVN 11041-2:2017; TCVN 11041-5:2018.

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Du lịch sinh thái cộng đồng Kim Bồng

Hotline: 0905286540

Email: dulichhtcdkimbong@gmail.com

Bình luận